Tổng quan bệnh
Ung thư khoang miệng là khối u ác tính phát sinh từ mô niêm mạc khoang miệng, là một trong những loại ung thư thường gặp nhất ở vùng đầu cổ, chiếm khoảng 3%–5% tổng số các khối u ác tính toàn thân. Dựa theo vị trí phát sinh, ung thư khoang miệng có thể được chia thành: ung thư lưỡi, ung thư lợi/nướu, ung thư niêm mạc má, ung thư sàn miệng, ung thư vòm miệng, ung thư môi, v.v. Trong đó, ung thư biểu mô tế bào vảy là loại thường gặp nhất, chiếm trên 80%. Bệnh thường gặp ở nam giới từ 40–60 tuổi và có liên quan chặt chẽ đến các thói quen sinh hoạt không lành mạnh như hút thuốc, uống rượu, nhai trầu cau. Triệu chứng giai đoạn sớm thường âm thầm, dễ bị bỏ qua. Tuy nhiên, nếu được phát hiện và điều trị sớm, tỷ lệ sống sau 5 năm có thể đạt 80%–90%.

Nguyên nhân chính - Hút thuốc:
Hút thuốc lâu dài là yếu tố nguy cơ quan trọng nhất gây ung thư khoang miệng. Người hút thuốc có nguy cơ mắc bệnh cao gấp 5–25 lần so với người không hút thuốc. - Uống rượu: Uống nhiều rượu trong thời gian dài kết hợp với hút thuốc có tác dụng hiệp đồng gây ung thư, làm nguy cơ tăng rõ rệt. - Nhai trầu/cau: Đặc biệt ở khu vực Đông Nam Á và miền Nam Trung Quốc, người nhai trầu/cau lâu dài có nguy cơ tăng gấp 20–30 lần. - Nhiễm virus: Nhiễm virus HPV, đặc biệt là các type HPV 16/18, có liên quan đến ung thư biểu mô vảy khoang miệng. - Kích thích vật lý: Chân răng còn sót, thân răng vỡ, phục hình răng không phù hợp ma sát lâu dài với niêm mạc miệng có thể gây biến đổi ung thư. - Thiếu dinh dưỡng: Thiếu vitamin A, C, E… làm suy giảm chức năng hàng rào bảo vệ của niêm mạc miệng. - Yếu tố di truyền: Ngườ
Liệu pháp nhiệt trị khối u + can thiệp vi xâm lấn: “bảo đảm kép” trong điều trị chính xác ung thư khoang miệng
Trước sự tấn công của khối u ác tính vùng khoang miệng, ông Trương ở Hắc Long Giang đã lựa chọn một phương pháp điều trị xanh hoàn toàn mới — kết hợp liệu pháp nhiệt trị khối u với kỹ thuật can thiệp vi xâm lấn. Phương pháp điều trị này có đặc điểm là ít tác dụng phụ và mức độ xâm lấn thấp, không chỉ giúp tránh nguy cơ biến dạng khuôn mặt có thể xảy ra khi phẫu thuật truyền thống, mà còn ức chế rõ rệt sự phát triển của khối u. Chỉ trong vòng bốn tháng, tình trạng bệnh của ông Trương đã được kiểm soát rõ rệt, giúp ông một lần nữa nhìn thấy hy vọng trong cuộc sống. Trường hợp này một lần nữa chứng minh giá trị lâm sàng của liệu pháp nhiệt trị khối u với vai trò là “phương pháp kiểm soát khối u lớn thứ năm”, đồng thời mở ra thêm nhiều khả năng mới trong điều trị ung thư.


Tháng 11 năm 2023, tại Hắc Long Giang, ông Trương, 59 tuổi, cảm thấy trong miệng hơi đau. Ông luôn nghĩ đó là loét miệng nên không để ý. Mãi đến tháng 6 năm 2024, cơn đau ở bên trong má trái ngày càng nặng. Chỉ trong vòng một tháng, vùng sưng đã to hơn cả quả trứng gà, vùng mép miệng bị loét trông giống như súp lơ, khóe miệng liên tục chảy mủ máu, ngày nào cũng chảy không ngừng, đeo khẩu trang cũng không che được. Ông đã đi khám tại nhiều bệnh viện địa phương, nhưng đều được nói là không thể điều trị. Dựa vào kinh nghiệm, bác sĩ địa phương cho biết ông Trương có thể đã mắc khối u ác tính vùng miệng. Tháng 7 năm 2024, ông Trương đến khoa Ung bướu của Bệnh viện Hoa Kiều Thâm Quyến.
Sau khi được kiểm tra hệ thống và sinh thiết bệnh lý, cuối cùng ông được chẩn đoán mắc khối u ác tính ở bên trong má. Sau đó, nhóm chuyên gia MDT của khoa Ung bướu Bệnh viện Hoa Kiều Thâm Quyến đã tiến hành hội chẩn cho ông Trương. Do khối u nằm ở vùng mặt, nếu phẫu thuật thì phải cắt bỏ nửa bên mặt; trong khi xạ trị truyền thống cũng có thể gây ra các tác dụng phụ như viêm khớp hàm dưới, dẫn đến khó há miệng. Sau khi cân nhắc tổng hợp, các bác sĩ quyết định áp dụng phương án điều trị kết hợp giữa nhiệt trị khối u và can thiệp vi xâm lấn. Hiện nay, ông Trương đã điều trị đến liệu trình thứ 6. Cơn đau tại vùng tổn thương đã hoàn toàn thuyên giảm, tình trạng chảy mủ đã biến mất, khối cứng thu nhỏ rõ rệt, mức độ cứng đờ cũng giảm đi rất nhiều.
Khi trả lời phỏng vấn phóng viên, ông Trương cho biết:“Không hề nói quá đâu, tôi là người đã trực tiếp trải qua. Mỗi lần điều trị lại có một sự thay đổi, mỗi lần lại thay đổi một chút. Đến nay cũng chỉ khoảng bốn, năm tháng mà có thể hồi phục đến mức này, tôi rất hài lòng! Sau mỗi liệu trình, khối đó lại nhỏ đi một chút. Lần đầu tiên điều trị can thiệp kết hợp với nhiệt trị, sau khoảng ba bốn ngày, trong khoang miệng giống như có những mảnh vụn của khối u, buổi sáng súc miệng là nhổ ra hết. Hiệu quả gần như thấy rõ chỉ sau một đêm. Rất nhiều bệnh nhân trong bệnh viện nhìn thấy đều nói hiệu quả thật sự rất tốt, mọi người đều có thể nhìn thấy trực quan. Tôi thật sự rất khâm phục bệnh viện này, thật sự vô cùng hài lòng!”

肿瘤热疗因其无痛、无副作用、安全舒适、效果显著的优势被誉为“肿瘤绿色疗法”。肿瘤与放化疗联用时,不仅能起到增敏增效的作用,同时还能降低化疗所产生的毒副作用。
而肿瘤介入治疗能精确作用于肿瘤部位,快速击杀、控制肿瘤,对患者身体影响小,恢复迅速。
将肿瘤热疗与介入治疗结合使用,能够进一步提升治疗的整体效果。具体而言,热疗可以改善肿瘤微环境,提高肿瘤对局部治疗的反应。这种改善使得介入治疗中灌注的化疗药物浓度得以提高,从而药物的治疗效果也就更强。此外,热疗的应用还能够减少介入灌注化疗药物所带来的毒副作用,使患者在治疗过程中体验更为舒适。

Triệu chứng thường gặp Triệu chứng giai đoạn sớm:
- Xuất hiện mảng trắng, mảng đỏ hoặc vùng niêm mạc miệng thô ráp, dày lên. - Vết loét nhỏ lâu ngày không lành. - Đau nhẹ hoặc cảm giác có dị vật trong miệng. Triệu chứng giai đoạn tiến triển: - Đau kéo dài: do khối u lớn dần hoặc nhiễm trùng thứ phát gây ra. - Chảy máu: bề mặt vết loét chảy máu hoặc tự phát chảy máu. - Khối u: sờ thấy khối u trong khoang miệng hoặc vùng cổ. - Khó nuốt: khối u xâm lấn lưỡi hoặc sàn miệng, ảnh hưởng đến chức năng. - Rối loạn ngôn ngữ: ung thư lưỡi khiến vận động của lưỡi bị hạn chế. - Sưng hạch bạch huyết cổ: hạch cổ cùng bên hoặc hai bên sưng to, cứng, cố định.
Phân loại và phân giai đoạn
Phân loại bệnh lý
- Ung thư biểu mô tế bào vảy (chiếm 80%–90%): mức độ biệt hóa từ biệt hóa cao đến không biệt hóa. - Ung thư biểu mô tuyến: ít gặp hơn, như ung thư biểu mô nhầy bì, ung thư biểu mô dạng tuyến nang. - Ung thư không biệt hóa: mức độ ác tính cao. - Các loại khác: ung thư biểu mô dạng mụn cóc, ung thư biểu mô tế bào đáy, v.v. Phân giai đoạn TNM - Theo AJCC phiên bản 8 Khối u nguyên phát (T) - Tis: Ung thư tại chỗ. - T1: Đường kính lớn nhất của khối u ≤ 2 cm, độ sâu xâm lấn ≤ 5 mm. - T2: Khối u > 2 cm nhưng ≤ 4 cm, hoặc khối u kích thước bất kỳ có độ sâu xâm lấn > 5 mm và ≤ 10 mm. - T3: Khối u > 4 cm, hoặc khối u kích thước bất kỳ có độ sâu xâm lấn > 10 mm. - T4a: Khối u xâm lấn các cấu trúc lân cận, như xương vỏ, cơ ngoài lưỡi, da. - T4b: Khối u xâm lấn khoang cơ nhai, mảnh chân bướm hoặc nền sọ, và/hoặc bao quanh động mạch cảnh trong.
Hạch lympho vùng (N) - N0: Không có di căn hạch lympho vùng. - N1: Di căn một hạch lympho cùng bên, kích thước ≤ 3 cm. - N2: Di căn nhiều hạch lympho cùng bên ≤ 6 cm, hoặc hạch lympho đối bên ≤ 6 cm. - N3: Hạch lympho di căn > 6 cm.
Di căn xa (M) - M0: Không có di căn xa. - M1: Có di căn xa.
Phân loại giai đoạn lâm sàng - Giai đoạn 0: TisN0M0 - Giai đoạn I: T1N0M0 - Giai đoạn II: T2N0M0 - Giai đoạn III: T3N0M0, T1-3N1M0 - Giai đoạn IVA: T4aN0-2M0, bất kỳ T N1-3 M0 - Giai đoạn IVB: T4b bất kỳ N M0, bất kỳ T N1-3 M1
Chẩn đoán
- Khám khoang miệng: Quan sát và sờ nắn để phát hiện tổn thương. - Sinh thiết giải phẫu bệnh: Tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán. - Chẩn đoán hình ảnh: Siêu âm, CT, MRI giúp đánh giá độ sâu xâm lấn và hạch bạch huyết. - Đánh giá hạch cổ: Thăm khám lâm sàng bằng sờ nắn hoặc kiểm tra bằng chẩn đoán hình ảnh.
Phòng ngừa và theo dõi tái khám
- Bỏ thuốc lá, hạn chế rượu bia: biện pháp phòng ngừa hiệu quả nhất. - Từ chối nhai trầu cau: tránh nhai trong thời gian dài. - Vệ sinh răng miệng: kiểm tra răng miệng định kỳ, xử lý kịp thời chân răng còn sót, phục hình răng không phù hợp. - Chế độ ăn lành mạnh: ăn nhiều rau quả tươi, giảm thực phẩm muối chua, hun khói, nướng. - Tiêm vắc-xin HPV: có thể phòng ngừa các tổn thương khoang miệng liên quan. - Theo dõi sau điều trị: Trong 2 năm đầu sau điều trị, tái khám 3 tháng/lần; từ năm thứ 3 đến năm thứ 5, tái khám 6 tháng/lần; sau 5 năm, tái khám mỗi năm 1 lần




